• BÍCH KHÊ - Thi Sĩ có "những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”

    BÍCH KHÊ
    Thi Sĩ có "những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”

    ĐỖ NGỌC THẠCH
    Source: www.NewVietArt.com



    Sáng tác thời kỳ đầu (từ 1931 đến 1936) của Bích Khê (1) là thơ Đường luật và thể thơ hát nói - phần lời cho ca trù, đăng trên các báo Tiếng Dân, Tiểu thuyết thứ Năm, Người mới...Đây là hai thể thơ khá phổ biến thời kỳ đầu thế kỷ 20 mà hầu như nhà Nho nào cũng có thể vung bút thành thơ và đă có rất nhiều tên tuổi các "Đại gia” đang ngự trị trên thi đàn như Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Thượng Hiền, Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê, Nguyễn Khuyến, Tản Đà, v.v…Trong khi đó, từ 1932 đến 1936, phong trào "Thơ Mới” phát triển rầm rộ cả bằng tác phẩm và tuyên ngôn với những tên tuổi sáng chói như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư…đă dồn "Thơ cũ” (theo kiểu Đường luật) vào những "Trang viên ẩn dật”. Năm 1937, khi Bích Khê đọc được những sáng tác của Hàn Mặc Tử trong tập Đau thương (bản đánh máy), Bích Khê thực sự cảm phục và thư từ qua lại với Hàn. Mối giao kết giữa Bích Khê và Hàn Mặc Tử trở nên thân thiết và họ Hàn thường xuyên khích lệ Bích Khê viết theo "kiểu Thơ Mới”…Cuối năm 1938, Bích Khê gửi cho Hàn Mặc Tử nhiều thơ, bị trả lại kèm theo lời khiêu khích mỉa mai (cốt làm cho chàng tức). Bích Khê xé nát tập bản thảo đó và thề là: Trong sáu tháng sẽ trở nên một thi sĩ phi thường, bằng không sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện làm thi sĩ nữa. Ngờ đâu sự hằn học của chàng đă bật nẩy thiên tài của chàng ra...chỉ trong ṿng ba tháng thôi, chàng đă viết được tập thơ bằng máu huyết, tinh tủy và châu lệ, tất cả say sưa đắm đuối của một tâm hồn thi sĩ... Đó chính là tập Tinh huyết. Cuối năm 1939, tập Tinh huyết ra đời với bài tựa do Hàn Mặc Tử viết, đă tạo được ấn tượng mạnh mẽ bởi sự mới lạ và biến ảo khôn lường, đúng như lời b́nh của Hàn Mặc Tử: "Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nh́n vào sự thực th́ sự thực sẽ thành chiêm bao, nh́n vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu”. Trong Lời tựa Tinh huyết của Bích Khê, Hàn Mặc Tử c̣n viết: Ta có thể sánh văn thơ của Bích Khê như đóa hoa thần dị... Và đem phân chất, ta sẽ thấy thơ chàng gồm có ba tính cách khác nhau: Thơ tượng trưng, thơ huyền diệu và thơ trụy lạc...Sự điên cuồng ấy uyên nguyên ở một phần thiên tài, và ở một phần sự "Đau khổ”...
    Tinh huyết của Bích Khê nhiều sáng tạo và cách tân độc đáo; nhiều t́m ṭi trong nghệ thuật tạo h́nh, cấu trúc, ngôn từ; và nhiều cảm xúc lạ, đẹp. Một số bài có ư thơ phóng túng và lời thơ táo bạo: "Nếu Nguyễn Bính là một miền đồng bằng thân thuộc th́ Bích Khê là một đỉnh núi lạ. Có những nhà thơ làm thơ. Có những nhà thơ vừa làm thơ vừa đẩy lịch sử thơ ca duy tân thêm một bước. Có những nhà thơ đem đến một mùa lương thực. Lại có những nhà thơ cầm một dúm hạt giống mới trên tay. Khê thuộc vào hạng thứ hai” (Chế Lan Viên).
    Khi giới thiệu Bích Khê trên cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đă viết, Bích Khê có "những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”, như Ô! hay buồn vương cây ngô đồng /Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông... Hay: Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm? / Nàng là hương hay nhan sắc lên hương...Nhưng liền sau đó Hoài Thanh thú nhận: "Tôi chưa thể nói nhiều về Bích Khê. Tôi đă đọc không biết mấy chục lần bài Duy Tân. Tôi thấy trong đó những câu thơ thật đẹp. Nhưng tôi không dám chắc bài thơ đă nói hết cùng tôi những nỗi niềm riêng của nó. H́nh như vẫn c̣n ǵ nữa...C̣n các bài khác hoặc chưa xem hoặc mới đọc có đôi ba lần. Mà thơ Bích Khê, đọc đôi ba lần th́ cũng như chưa đọc...”.
    *
    A."Quan điểm thẩm mỹ”của Bích Khê: 1/ "Thuần túy và Tượng trưng”; 2/ "Và mới mẻ - trên viễn cổ Đông phương”.
    Bích Khê xuất hiện trên thi đàn Việt Nam như nhà cách tân đi xa hơn cả so với các nhà thơ đương thời. Thơ Bích Khê (tập Tinh huyết in năm 1939) được Hàn Mặc Tử đánh giá cao và các nhà nghiên cứu văn học đă lấy Tinh huyết của Bích Khê để đánh dấu một cái mốc mới của "Thơ Mới”: Với Tinh huyết, "Thơ mới" chuyển từ lăng mạn sang tượng trưng và siêu thực (*)…Ở Tinh huyết phần lớn là bí hiểm, nhưng vẫn có thể nh́n thấy trong đó một hồn thơ đắm đuối, cuồng nhiệt. Nhà thơ có nhiều t́m ṭi đổi mới thơ ca theo hướng chủ nghĩa hiện đại, đi sâu vào cơi vô thức. Có một số bài, một số câu ư tứ mới mẻ, nhạc điệu du dương...(Từ điển bách khoa Việt Nam).
    Người ta chú ư nhiều đến Bích Khê với lối thơ tượng trưng, như chính nhà thơ đă từng hơn một lần tuyên ngôn bằng thơ:

    Hỡi lời ca man dại
    Điệu nhạc thở hơi rừng
    Đêm nay xuân đă lại
    Thuần túy và tượng trưng.
    Nâng lên núm vú đồi
    Sữa trăng nhi nhỉ giọt
    Bay qua cụm liễu phơi
    Những cườm tay điểm hột
    Sương phất phơ lau lách
    Khe uốn ḿnh giai nhân
    Đường non khéo điêu khắc
    Những dáng h́nh khỏa thân.
    (Xuân tượng trưng)

    Trong Tinh huyết, ngoài hẳn một bài dùng để "Tuyên ngôn nghệ thuật” là Xuân tượng trưng, c̣n có các bài như Mộng cầm ca, Đôi mắt, Duy tân thể hiện rơ quan niệm sáng tác thơ của Bích Khê:

    Đường kiến trúc nhịp nhàng theo điệu mới
    Của lời thơ lóng đẹp - Hạt châu trong -
    Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô ḷng
    Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng...
    ...Ta nhịp nhàng ư nhị nhịp theo Ta
    Lời nối lời bố thí lộc tinh hoa
    Của âm điệu, mơ màng run lẩy bẩy,
    Một hỗn hợp đẹp xô bồ say dậy
    Bằng cảm t́nh, bằng h́nh ảnh yêu thương
    Và mới mẻ - trên viễn cổ Đông phương!
    (Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật?)
    Thơ lơa thể! Giai nhân tuần trăng mật,
    Nữ thần ơi! Ta nô lệ bên người!...
    (Duy tân)

    Như vậy, có thể nói "Quan điểm thẩm mỹ”của Bích Khê gồm hai xu hướng: 1/ "Thuần túy và Tượng trưng” và 2/ "Và mới mẻ - trên viễn cổ Đông phương”. . Bên cạnh sự cách tân theo xu hướng "Hiên đại” đă trở thành một đ̣i hỏi cấp bách của thời đại, Bích Khê không "bán ḿnh” cho phương Tây mà luôn trở về với cội nguồn Á Đông. So sánh hai thi phẩm của Bích Khê, Quách Tấn đă nhận định: "Tinh huyết mang nhiều sắc thái của Tây phương, c̣n Tinh hoa chứa nhiều khí vị của Đông phương” (Tinh hoa. NXB HNV, 1997, tr102).
    Có điều cần chú ư là, không như các nhà thơ đương thời quá sùng bái phương Tây, thường nêu tên các nhà thơ Tượng trưng, Siêu thực như một tấm gương tôn thờ, lấy thơ của họ làm "đề từ” trong tác phẩm của ḿnh (điển h́nh là Xuân Diệu), Bích Khê vẫn gắn bó với Đường thi và thơ ca dân tộc: Thi Tiên Lư Bạch, rồi Thôi Hiệu với Hoàng Hạc lâu, Tư Mă Tương Như với Phụng cầu hoàng, rồi nữa là khúc nhạc sáo thần t́nh Lạc Mai Hoa, vũ điệu Nghê thường vẫn là những ấn tượng không mờ phai trong cảm hứng thi ca của Bích Khê:

    Không gian tơ - không gian tơ gợn sóng;
    âm thanh ǵ sắp sửa... Ngọc Kiều ơi !
    Hay hơi thở của hoa hồng mơ mộng ?
    Hay buồn đêm rào rạt, - ở muôn nơi ?
    Không gian tơ - không gian tơ gợn sóng;
    Ngọc Kiều ơi ! - Hồn đến bến xa khơi !...
    Níu cho ta, cho ta muôn yến nguyệt,
    Ngọc Kiều ơi ! - nầy khúc Lạc Mai Hoa (2).
    Suối tóc mát, nhúng trong vùng mộng tuyết:
    Ta đê mê, ta gảy điệu Tỳ Bà;
    Níu cho ta, cho ta muôn yến nguyệt
    C̣n đây em, nầy khúc Mộng Cầm Ca.
    Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc ?
    Vú non non ? Da dịu dịu, êm êm ?
    Đâu hang báu cho người ta phải khóc ?
    - Trên môi son, ta liếc lưỡi gươm mềm !
    Đâu đôi mắt mùa thu xanh tợ ngọc ?
    - Lưới lông mi rờn rợn ánh tơ đêm !
    Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
    Của gương hồ im lặng tợ bài thơ.
    Chân nhịp nhàng, ḷng nghe hương nằng nặng.
    Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ.
    Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
    Của hồn thu đi lạc ở trong mơ...
    Người cho ta một thanh gươm rất sắc ?
    Ô vung lên... cắt mạch nguyệt vàng xanh !
    Xẻ mạch trời, - mây xô sao, răng rắc !
    Phăng mạch đêm, - hương vỡ, ứa ngầm tinh !
    Người cho ta một thanh gươm rất sắc ?
    - Ta điên rồ... múa giữa áng b́nh minh.
    (Mộng Cầm ca)

    Ô trời hôm nay sao mà xanh !
    Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành,
    Nhung mây tê ngời sao kim cương,
    Dạ lan tê ngời say men hương;

    Lầu ai ánh ǵ như lưu ly ?
    Nụ cười ai trắng như hoa lê ?
    Thủy tinh ai để ḷng gương hồ ?
    Không gian xa cừ hay san hô ?

    Đêm ôm hồn tôi chơi phiêu diêu
    Bắt gặp nàng thơ diện yêu kiều;
    Man mác cho nên nhớ chị Hằng:
    Hai tôi nhịp nhàng lên cung trăng...
    Là ngọc thạch hay trân châu ?
    Mă năo hay là hổ phách đây ?
    - Cung thiềm vắt vẻo cài lên mây,
    Tiên nữ ra chào, t́nh ngây ngây...
    Nầy ! muôn ngọc nữ ngớp y thường
    Tóc quyện bay mùi tô hợp hương –
    Uốn ḿnh say lượn sóng xiêm nghê;
    Khúc Phụng cầu hoàng sôi đê mê...(3)
    Diễm lệ, Hằng Nga bước xuống đền:
    Điệu ca thần diệu vẳng đưa lên...
    - Chúng tôi lạc giữa mộng như ngà
    Ngỡ vướng vào muôn tơ lụa sa...
    (Nghê Thường)

    Và chẳng phải vô cớ mà Bích Khê có tới ba bài về nữ sĩ Hồ Xuân Hương và h́nh ảnh Xuân Hương hiện lên thật là đẹp:

    Hai tôi vừa ghé bến sông Ngân:
    Ô ! nàng Xuân Hương ngực để trần
    Ngâm bài "Vấn nguyệt" tiếng trong ngần
    Nh́n xuống nhân gian cười như điên.
    (Nghê thường)

    Và không cần biết Bà Chúa Thơ Nôm có đồng ư hay không, Bích Khê coi Xuân Hương là vợ ḿnh:

    Canh sương quán lạnh nguyệt tà song
    Bên gối hương lan đến ấp ḷng.
    Người vợ trong thơ gần cách mộng
    Đêm nay chẳng biết có về không ?
    (Hồ Xuân Hương)

    Nghê thường (4) là một trong những tuyệt tác của thơ Bích Khê. C̣n có cảnh tượng nào đẹp hơn cảnh Thi sĩ cùng Nàng Thơ lên cung Quảng thăm Hằng Nga giữa một không gian lung linh huyền ảo, được vẽ bằng những câu thơ toàn vần bằng độc đáo:

    Ô trời hôm nay sao mà xanh !
    Ngọc trăng xây vàng trên muôn cành,
    Nhung mây tê ngời sao kim cương,
    Dạ lan tê ngời say men hương;
    Lầu ai ánh ǵ như lưu ly ?
    Nụ cười ai trắng như hoa lê ?
    Thủy tinh ai để ḷng gương hồ ?
    Không gian xa cừ hay san hô ?

    Cũng theo cái nhịp điệu độc đáo đó là truyệt tác Hoàng Hoa, h́nh như được viết sau khi ở chỗ Hằng Nga trở ra: những câu thơ khiến ta như bay lên cùng với Thi sĩ:

    Lam nhung ô ! màu lưng chừng trời;
    Xanh nhung ô ! Màu phơi nơi nơi.
    Vàng phai nằm im ôm non gầy;
    Chim yên neo ḿnh ôm xương cây.
    Đây mùa Hoàng hoa, mùa Hoàng hoa:
    Đông nam mây đùn nơi thành xa...

    Oanh già theo quyên quên tin chàng !
    Đào theo phù dung: thư không sang !
    Ngàn khơi, ngàn khơi, ta, ngàn khơi:
    Làn trăng theo chàng qua muôn nơi;
    Theo chàng ta làm con chim uyên;
    Làn mây theo chàng bên nhung yên.

    Chàng ơi! hồn say trong mơ màng,
    - Hồn ta ? hay là hồn t́nh lang ?
    Non Yên tên bay ngang muôn đầu...
    Thâm khuê oan ǵ giam xuân sâu ?
    - Ai xây bờ xanh trên xương người ?!
    Ai xây mồ hoa chôn đời tươi ?!
    (Hoàng Hoa)

    Cũng theo cái nhịp điệu độc đáo với những câu thơ toàn vần bằng như mơm man cảm giác của ta, lại không thể không nhắc đến bài Tỳ Bà, nơi có "những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”:

    Nàng ơi ! Tay đêm đang giăng mềm
    Trăng đan qua cành muôn tay êm
    Mây nhung pha màu thu trên trời
    Sương lam phơi màu thu muôn nơi
    Vàng sao nằm im trên hoa gầy
    Tương tư người xưa thôi qua đây
    Ôi ! Nàng năm xưa quên lời thề
    Hoa vừa đưa hương gây đê mê
    Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
    Cây đàn yêu đương run trong mơ
    Hồn về trên môi kêu: em ơi
    Thuyền hồn không đi lên chơi vơi
    Tôi qua t́m nàng vay du dương
    Tôi mang lên lầu lên cung Thương
    Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
    T́nh tang tôi nghe như t́nh lang

    Yêu nàng bao nhiêu trong ḷng tôi
    Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
    Đâu t́m Đào Nguyên cho xa xôi
    Đào Nguyên trong ḷng nàng đây thôi
    Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
    Sao tôi không màng kêu: em yêu
    Trăng nay không nàng như trăng thiu
    Đêm nay không nàng như đêm hiu
    Buồn lưu cây đào t́m hơi xuân
    Buồn sang cây tùng thăm đông quân
    Ô ! Hay buồn vương cây ngô đồng
    Vàng rơi ! vàng rơi: Thu mênh mông
    (Tỳ bà)

    Nếu như cần nói về Nhạc tính trong thơ Bích Khê th́ điều đó ngưng tụ trong chùm ba bài tuyệt tác này bởi Cây đàn của Bích Khê là Cây đàn yêu đương làm bằng thơ! Bích Khê có nhiều bài thơ, đoạn thơ dành cho âm nhạc, cho vũ điệu như Nghe chuông, Mộng cầm ca, Tỳ bà, Nghê thường, Đây bản đàn thơ, Tiếng ca, Nam hành, Đàn sáo dưới trăng, Tiếng đàn mưa…Và ngay cả lúc nghĩ về cái chết, Bích Khê cũng viết:

    Mùa thu ám ảnh nhà thi sĩ
    Muốn thổi tiêu vàng giữa khói sương
    Gió tiêu sẽ quạt buồn thanh tịnh
    Về chốn thôn già viếng mả tôi
    (Nấm mộ)

    V́ thế, vào cơi thơ của Bích Khê là người ta như lạc vào không gian của sóng nhạc, như lời b́nh của Hàn Mặc Tử: "Phải chăng ta nhận thấy sóng âm thanh xao gợn, nổi trôi lên xuống như muôn hoa gió lùa” (Lời Tựa Tinh huyết):

    Ô Nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc
    Những cánh hồng đơm, những cánh hồng đơm
    Nhịp nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương…
    Từ ở phương mô nhạn mang thơ về
    Đây dây trinh bạch khóe mướt trong mơ
    Đây hồn ngọc thạch xanh xao như tờ

    Thơ bay; thơ bay vô bàn tay ngà,
    Thơ ngà ngà say! thơ ngà ngà say!
    Nàng ơi đừng động... có nhạc trong giây
    Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trong mây,
    Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động,
    Ô nàng tiên nương! Hớp nhạc đầy hương
    (Nhạc)
    Và chính sóng nhạc đó đă khơi nguồn mạch thơ Bích Khê tuôn trào như thác đổ:

    Ta trên đài vọng hải
    Ngất ngưởng mặt thần đồng
    Khôi ngô và lẫm liệt,
    Cất tiếng hát trong veo:
    Trước chơi ḥn Non Nước
    Vần điệu ngọc vàng reo!
    Nay chơi ḥn non Nước
    Thi hứng suối tuôn đèo!
    (Ngũ Hành Sơn)

    B. Ba nội dung chính trong thơ Bích Khê:

    Thơ Bích Khê là một chỉnh thể thẩm mỹ, một tuyệt tác thi ca tới mức Hàn Mặc Tử gọi đó là một "đóa hoa thần dị” (Lời tựa tập thơ Tinh huyết của Bích Khê, Hàn Mặc Tử viết: Ta có thể sánh văn thơ của Bích Khê như đóa hoa thần dị...). V́ thế, muốn b́nh giá, "phân chất” "đóa hoa thần dị” đó quả là không hề dễ dàng. Khi giới thiệu Bích Khê trong Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh đă dẫn lại lời phẩm b́nh rất xứng đáng của Hàn Mặc Tử "Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nh́n vào sự thực th́ sự thực sẽ thành chiêm bao, nh́n vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu” và viết tiếp: "Tranh lơa thể”, sự trần truồng dâm đăng đă nhường lại cho ư vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết. Và Hoài Thanh đă trích một đoạn trong bài "Tranh lơa thể”
    để gọi đó là "những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”:

    Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ
    Ồ tiên nương ! Nàng lại ngự nơi này ?
    Nàng ở mô ? Xiêm áo bỏ đâu đây ?
    Đến triển lăm cả tấm thân kiều diễm.
    Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm ?
    Nàng là hương hay nhan sắc lên hương ?
    Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường;
    Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
    Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
    Vài chút trăng say đọng ở làn môi.

    Có lẽ Bích Khê là nhà thơ đầu tiên vẽ tranh lơa thể bằng thơ và lập tức thi sĩ đă trở thành "danh họa”. V́ thế, chỉ dẫn mấy câu thơ trên của bài "Tranh lơa thể” e chưa đủ. Hăy nh́n toàn cảnh bức "Tranh lơa thể” (**) danh họa Bích Khê:

    Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ
    Ô tiên nương nàng lại ngự nơi này ?
    Nàng ở mô ? xiêm áo để đâu đây ?
    Đến triển lăm cả tấm thân kiều diễm
    Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm
    Nàng là hương hay nhan sắc lên hương ?
    Mắt ngời châu tung ánh sáng nghê thường
    Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
    Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
    Vài chút trăng say đọng ở làn môi
    Hai vú nàng ! Hai vú nàng ! chao ôi
    Cho tôi nút một ḍng sâm ngọt lộng
    Ôi lồ lộ một ṭa hoa nghiêm động
    Tôi run run hăm lại cánh hồn si …
    Ồ hai tay rơi chén ngọc lưu ly
    Ố hai chân nở màu sen ẻo lả
    Cho tôi nàng ! cho tôi nàng ! tất cả …
    Tôi miên man uống lại mộng quỳnh dao
    Cho đê mê , chới với hồn lên cao
    Một tinh cầu sẽ tan ra biển lệ …
    Tiên nương hỡi ? Nàng sống trên thế hệ
    Bóng thời gian phải quỵ dưới chân nàng
    Xuân muôn đời di dưỡng giữa vùng tang
    Gương phép tắc suốt soi ngàn mộng ảnh !
    Cớ làm sao nâng niu bầu giá lạnh
    Ấp tranh người , lơ đăng ngắm thi nhân ?
    Hay nàng nhớ nhung các phương đều lặn
    Hay nàng ước mơ t́nh trong trắng ngọc ?
    Ôi ! nàng ôi ! làm sao nàng chẳng khóc
    Người thi nhân , vẻ đẹp của khiêu dâm
    Trăng thanh tịnh c̣n ḷng trong thơ cảm
    Nhạc vô minh hằng sôi trên nét chữ ?
    Ôi ! nàng ôi ! thốt lên , lời ngọc nữ
    Lời trân châu rang cả phím ḷng tôi
    Ngọc Kiều ! Ngọc Kiều ! Đến cặp song đôi
    Cho tôi đọ vẽ hương trời sắc nước
    Vẽ huyền diệu ứ men say lướt mướt
    Vẽ yêu tinh dồn giận thấu vô gan
    Ta thiếp đi - trong một phút mê loan
    Xuống muôn đợt rồi bay lên tột bực …
    ( Rút từ tập Tinh huyết )

    Ngoài Tranh lơa thể, Bích Khê c̣n có nhiều bài thơ khác "ca tụng vẻ đẹp của cơ thể thiếu nữ” như Xác thịt, Sắc đẹp, Mộng lạ... :

    Ôi đi! đoàn tiên lột khỏa thân.
    Hoan hô xác thịt chiếm ngôi thần
    (Mộng lạ)

    Nói đến "khỏa thân”, "xác thịt” người ta thường nghĩ đến "nhục cảm”. Nhưng ở thơ Bích Khê, trong cái "khỏa thân”, "xác thịt” ấy lại là hương thơm và nhạc điệu, đúng như nhận xét của Hoài Thanh vừa dẫn trên "sự trần truồng dâm đăng đă nhường lại cho ư vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết”, của "rung động truyền thần”, của đam mê và khoái cảm:

    Có ǵ uyển chuyển trong da thịt;
    Nức một đường thơm một điệu êm
    (Châu).

    Mộng?
    Thiên tài?
    Trên hỗn độn khỏa thân.
    Đẹp tỷ mỷ, hỡi rung động truyền thần.
    (Duy tân)

    Cho t́nh ta xô dồn sang cực điểm;
    Và hào quang khiêu vũ với hào quang
    (Nàng bước tới)
    Nàng! Hở nàng! Hăy cắn vào hồn ta.
    Hồn nguyệt bạch ran lên chiều háo hức
    Tôi uống trọn cặp môi hường thơm phức
    Ô cặp mắt đa t́nh ngời sắc kiếm!
    Một bàn chân ve vuốt một bàn chân.
    Mát làm sao! Mát rợn cả châu thân
    Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực
    Ôi! thớ thịt có đàn lên cung bực
    Hồn tôi ôm gót ngọc lắng âm thanh
    (Bàn chân)

    Ôi! say khướt mới dào tuôn ư tứ
    Ôi! điên rồ mới ngợp ánh trăng sao
    Ôi! dâm cuồng mới biết giá trăng sao
    Yêu bằng mộng là mơ tim sáng láng
    (Trái tim)

    Mộng rất xanh, mộng rất xanh, rất xanh...
    Choáng thời gian vây môn đầu thục nữ.
    Hồn đê mê, trong khi ḷng giận dữ,
    Và tạo ra một thứ sáng hào quang:
    Những mặt trời, nhan sắc đẹp như trăng
    Và sắc lẻm như thanh gươm vấy máu;
    Những đôi mắt, kho tàng muôn châu báu,
    Có những hàng đũa ngọc gắp hương yêu;
    Những môi son phản ánh một trời chiều,
    Một trời chiều mà muôn hoa nín thở
    Những vú nơn: đồi cong thon, nho nhỏ,
    Với đôi ḍng suối sữa trắng như tinh:
    Ôi rất thanh! Rất thanh là rất thanh!
    Ngát thinh khí v́ thơm tho như xạ,
    Và rùng rợn như một điểm quái lạ.
    Hồn ngươi nặng bị riềng khoan sắt đỏ,
    Hễ chiêm bao là thấy chuyện đau thương.
    Hồn ngươi mê như sắc đẹp trên giường.
    (Sắc đẹp)

    Quả là thơ Bích Khê đă "bắt cái vô h́nh trở nên hữu h́nh, khiến cái chết trở nên sống, khiến cho vật câm không c̣n là câm nữa” như lời b́nh của Hàn Mặc Tử (Lời Tựa Tinh huyết):

    Mộng rớt đêm này như chất ngọc
    Người ta say nghiến những men t́nh
    Tôi hoan hô phút giây thần diệu
    Chết giả nhưng cười trắng thủy tinh

    Và tất cả thiên nhiên, vạn vật, dưới cái nh́n "siêu thực” của Bích Khê đều đầy "nhục cảm” và quyến rũ mê hồn:

    Đài nộn nhụy hóa nguồn trinh tinh khiết
    Ướp một làn hương rượu quyện lâng lâng
    Tràng cánh trắng biến ra da thịt tuyết
    Một tiên nương mừa tựa một giai nhân
    Ngửng đôi mắt chứa mùa xuân phẩm tiết
    Giữa bài thơ... đưa vẳng tiếng ngân
    (Đồ mi hoa)

    Múi trăng sao như ngọc
    Múi mát tợ thịt thơm
    Môi hoa ai mời mọc
    Ngọt lịm đến linh hồn
    (Quả măng cụt)

    Với Ngũ hành sơn (Tiền và hậu) là sự biến hóa kỳ ảo, như mộng mà rất thực:

    Lên chơi ḥn Non nước
    Gót trổ ngọc song song
    Chàng ơi đêm đă ướt
    Mắt sao trên sườn cong
    …Lờ mờ đường lên mây
    Chén trăng vừa tầm với
    Chàng ơi, vàng ṛng đây
    Kề môi say ân ái...
    …Đứng trên đài vọng hải
    Ngỡ tới Hoàng Hạc Lâu
    Tuyệt thay ḥn Non nước
    Hồn Thôi Hiệu ở đâu?
    Kim, mộc, hỏa, thổ lạy
    Trên dưới đất trời chầu
    … Phật Như Lai thoạt hiện
    Trên bảy sắc cầu vồng
    Quái thay hồn Non nước
    Nghe giảng đủ mười tông.

    Phần cuối Tinh huyết mang tên Cuồng và ánh sáng có bài Châu rất độc đáo và thể hiện khá tập trung bút pháp siêu thực và tượng trưng của Bích Khê. Hồn thơ của Bích Khê như luôn lăng du trong thế giới hư ảo, thế giới siêu thực để dơi t́m một "vẻ ǵ” đó đang ám ảnh, thôi thúc thi sĩ t́m kiếm. Đó chính là Đôi mắt Thi nhân. Đôi mắt trở thành biểu trưng vừa rực rỡ, sáng chói vừa vô ảnh vô h́nh:

    Nhưng, nhiệm màu! Trước mắt, ánh trăng hường
    Bay lả tả - muôn hoa đều nín thở
    Một sắc động? Một mùi hương mới vỡ?
    Một màu son phảng phất ư mơ màng?
    Không! Từ trong thanh khí dội hương vang
    Bỗng đôi mắt hiện h́nh - Đôi mắt ngọc.
    Ôi đôi mắt! - Toàn thân tôi rởn ốc!
    Cả linh hồn óc năo phổi tim gan
    Đều say rêm trong sóng điện rang rang
    Với âm cốt tinh thần và khí phách
    - Hỡi đôi mắt! Nơi người là ngọc thạch
    Nơi giếng người phản chiếu ảnh thiên thần
    Nơi suối người giữ kín tiếng châu ngân

    Nơi triển lăm cả một bầu tiên động
    Nơi rung rinh cả một trời thơ mộng
    Người là ai? Người hỡi! Người là ai?
    - Nhưng đôi mắt lờ lặng và mê say
    Nh́n đắm đuối không một lời náo nức
    Đôi mắt nh́n đắm đuối và mê say

    - Hỡi đôi mắt! Người hăy hiện trên tay
    Cho ḷng ta ấp yêu nguồn suối lệ
    Hồn ta say trong nhạc vàng kể lể
    T́nh ta dâng trong gợi sóng thu ba
    Cả máu đào tủy trắng với xương ma
    Cùng tinh loăng và bao nhiêu bảo vật

    Để xây đắp đàn thờ cao chất ngất
    Lút mây xanh và lút cả thiên thai
    Người là ai? Người hỡi! Người là ai?
    - Bỗng đôi mắt rưng rưng dường rớm khóc
    Nhưng cười nụ trong màu hoa ánh ngọc:
    - Ta là CHÂU ! Thi sĩ ! Ta là CHÂU ! (5)
    (Châu III)
    *
    Nhà thơ Thanh Thảo, người đồng hương hậu bối của Bích Khê khẳng định: Bích Khê đă hết ḿnh v́ thơ, có thể nói, đời ông chỉ biết có thơ, chỉ có một t́nh yêu lớn nhất : t́nh yêu thơ. Và ông nói tiếp: "Tôi đọc lại lời tựa của Hàn Mặc Tử cho tập Tinh huyết - "Bích Khê thi sĩ thần linh” - đọc mà cảm phục cái t́nh yêu trong sáng tuyệt đối, sự dâng hiến đến quên ḿnh của họ cho cái Đẹp, cho Thơ, cùng với t́nh bạn vô tư không một chút đố kỵ, nhỏ nhen, cái t́nh bạn chỉ nhằm một mục đích duy nhất là tôn vinh thơ, tôn vinh nghệ thuật” (6). Đó là điều không thể thiếu trong phẩm chất của một nhà thơ, của một nhân cách thơ. Tiếc rằng các nhà thơ của chúng ta ngày nay lại quá xem thường điều này (7)…V́ vậy, tôi thấy lời kêu gọi này, cũng của nhà thơ Thanh Thảo là thật cần thiết:
    "Thơ Bích Khê kêu gọi một sự hy sinh toàn diện cho Thơ, kêu gọi một cuộc thánh chiến với cái bất khả. Nhà thơ, kẻ bị khinh bỉ ấy trong một thế giới hiện đại, sẽ đứng lên và vung lưỡi gươm thơ mà thần linh trao cho người, như Bích Khê từng vung :

    Người cho ta một thanh gươm rất sắc ?
    Ồ vung lên... cắt mạch nguyệt vàng xanh !
    Xẻ mạch trời, mây xô sao, răng rắc !
    Phăng mạch đêm - hương vỡ, ứa ngầm tinh !
    Người cho ta một thanh gươm rất sắc ?
    Ta điên rồ... múa giữa áng b́nh minh!”.
    (Mộng cầm ca)
    *
    Thơ Bích Khê thật đa dạng về cảm xúc, phong phú về bút pháp. Lúc th́ êm đềm, nhẹ nhàng như yểu điệu thục nữ:

    Ôi nắng vàng thơm… rung rinh điệu ngọc
    Những cánh hồng đơm, những cánh hồng đơm
    Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương
    Màu trắng không gian như gờn gợn sóng
    Từ phương mô nhạn mang thơ về
    Đàn thơ cơ hồ lên cung âm điệu
    Đàn giây trinh bạch khóc mướt trong mơ …

    Lúc th́ như say mê điên dại, thi sĩ bị xô đẩy từ cái thực sang cái ảo:

    Ôi khối mộng của hồn thơ chếnh choáng
    Ôi buồng xuân hơ hớ cánh đào sương
    Ôi b́nh vàng, ôi chén ngọc đầy hương
    Ôi hồ nguyệt đọng nhiều trăng lấp loáng…

    Và đến với thơ Bích Khê, ta như được thoát tục, để phiêu bồng trong cơi mơ vô hạn của Thi nhân:

    Không gian tơ - không gian tơ gợn sóng
    Âm thanh ǵ sắp sửa… Ngọc Kiều ơi
    Hay hơi thở của hoa hồng mơ mộng
    Hay buồn đêm rào rạt - ở muôn nơi?
    Không gian tơ - không gian tơ gợn sóng
    Ngọc Kiều ơi, hồn đến bến xa khơi…
    Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
    Của gương hồ im lặng tựa bài thơ
    Chân nhịp nhàng, ḷng nghe hương nằng nặng
    Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ
    Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc nắng
    Của hồn thu đi lạc ở trong mơ …



    ___________________________________________

    Chú thích:

    (*) Chủ nghĩa tượng trưng: trào lưu và trường phái văn học, nghệ thuật ở Châu Âu, Nga và Mĩ cuối thế kỉ 19; chủ trương thể hiện thế giới và sự vật không phải bằng những h́nh ảnh trực tiếp mà bằng những h́nh ảnh gián tiếp có tính cách gợi ra những ư niệm tương đương về thế giới, về sự vật. Theo quan điểm của các nghệ sĩ thuộc trường phái tượng trưng, thế giới, vũ trụ đều hiện ra dưới h́nh thức các biểu trưng. Bởi vậy, nghệ thuật muốn phản ánh thế giới phải t́m ra những "hiện thực ẩn giấu" bằng những suy tư triết học của người nghệ sĩ và thể hiện qua các biểu trưng thẩm mĩ.
    Nguyên tắc mĩ học của CNTT là: tinh cách biểu trưng nghệ thuật cho các "vật tự nó” và các ư niệm nằm ngoài giới hạn của sự tri giác cảm tính. Biểu tượng nghệ thuật được xem là công cụ hữu hiệu hơn h́nh tượng để chọc thủng cái vỏ quen thuộc hàng ngày nhằm vươn tới cái bản chất lư tưởng siêu thời gian của thế giới - cái vẻ đẹp siêu nghiệm. Các yếu tố then chốt của CNTT là trực giác, âm nhạc, trữ t́nh. Nghệ thuật chủ trương dùng những h́nh tượng đặc biệt để biểu hiện bản chất sự việc, những t́nh cảm, những điều bí ẩn mà cảm giác không nhận thức được.

    Chống đối xă hội tư sản nhưng mang nặng một quan niệm bi đát về xu thế của cuộc sống, CNTT chủ trương "nghệ thuật vị nghệ thuật" và tự đặt tên là "suy đồi" (từ của Veclen), tức chống lại chủ nghĩa thực dụng và các nghệ thuật thời thượng. Morêa (J. Moréas), người đứng đầu trường phái tượng trưng Pháp đă viết tuyên ngôn của trường phái này (1886). Các đại biểu lớn của trường phái tượng trưng: Veclen (P. Verlaine), Ranhbô (A. Rimbaud), Bôđơle (Ch. Baudelaire), Lôtơrêamông (I. D. Lautréamont) và sau này là Clôđen (P. Claudel) và Valêry (P. A. Valery); Mateclinkơ (M. Maeterlinck), Êliơt (T. S. Eliot; Anh), Rinkơ (R. M. Rilke), Blôc (A. A. Blok), Bêlưi (A. Belyj), Paođơ (E. Pound). Trong nghệ thuật tạo h́nh có Gôganh (P. Gauguin), Vruben (M. A. Vrubel&apos, v.v…
    Chủ nghĩa siêu thực là một trào lưu văn học và nghệ thuật ở thế kỷ 20, bắt đầu ở Paris và được nhà thơ người Pháp André Breton viết tuyên ngôn vào năm 1924. Chủ nghĩa siêu thực cố gắng diễn tả tiềm thức bằng các tŕnh bày các vật thể và sự việc như được thấy trong những giấc mơ. Siêu thực là một khuynh hướng nghệ thuật lớn bao trùm nhiều loại h́nh của nghệ thuật. Bắt đầu từ thơ, siêu thực lan tới hội họa rồi tiếp đến điện ảnh, tiểu thuyết. Thuật ngữ Chủ nghĩa siêu thực được nhà thơ Guillaume Apollinaire dùng trong tác phẩm của ḿnh vào năm 1917. Sau tuyên ngôn năm 1924, thuật ngữ này được sử dụng rộng răi trong văn học và nghệ thuật. Những nguyên tắc mĩ học của CNST là: Hướng về thế giới vô thức của con người - đó là một lĩnh vực vô hạn đối với sự sáng tạo nghệ thuật. Đề cao cái ngẫu hứng, những cái xuất hiện lướt qua trong đầu, không qua sự kiểm soát của lư trí. Vứt bỏ sự phân tích logic, chỉ tin cậy ở trực giác, giấc mơ, ảo giác, ở những linh cảm bản năng và sự tiên tri. Hướng tới sự hồn nhiên trong suy nghĩ như trẻ thơ, tới trạng thái mê sảng, tới những ảo giác mộc mạc của người nguyên thủy và nền nghệ thuật cổ sơ của họ. CNST chủ trương thơ ca phải được tuôn trào tự do, không cần tuân thủ các quy định về câu cú, đề cao sự liên tưởng tự do. Về cơ bản, CNST chống sự tầm thường của chủ nghĩa hiện thực.
    (**) Lời b́nh của HÀN MẶC TỬ ( Trích LỜI TỰA tập TINH HUYẾT ) :

    … Ở sọ người , cũng như ở tranh lơa thể , sự trần truồng dâm đăng đă nhường lại cho ư vị nên thơ , của hương , của nhạc , của trăng , của tuyết . Quả nhiên là một sự khống khen thanh tao quá đến ngọt lịm cả người và thơ:

    Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố nữ
    Ô tiên nương nàng lại ngự nơi này ?
    Nàng ở mô ? xiêm áo để đâu đây ?
    Đến triển lăm cả tấm thân kiều diễm
    Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm
    Nàng là hương hay nhan sắc lên hương ?
    Mắt ngời châu tung ánh sáng nghê thường
    Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
    Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
    Vài chút trăng say đọng ở làn môi

    Trực giác của thi sĩ mạnh quá đến nỗi thấy nhan sắc lên hương , thấy cả sóng nghê thường đương nao nao gợn , và so sánh hai hàng nước mắt trong trắng của nàng là hai chiếc đũa ngọc . Và thấy mái tóc u huyền xinh như một mùa thu mươn mướt , thi nhân bảo đấy là đêm đang ngủ mơ …
    Nếu chẳng phải là một nghệ thuật siêu thần , thi nhân làm sao đưa đến một nguồn sống phong t́nh mà thanh khiết cho giai nhân ? Để có cái ma lực huyền diệu cám dỗ được ngũ quan của người trần …
    Sự say mê , t́m kiếm những nguồn hoan lạc vô biên đă dần dần đẩy thi nhân vào bờ bến của huyền diệu . Ở đây , sự mường tượng của thi nhân lại dồi dào hơn nữa , người ta chỉ gặp toàn âm thanh dường ngả ngớn , với muôn thứ xạ hương bay lẳng lơ trong lồng nhạc , trong khi có hằng hà sa số là ánh hào quang va vào hồn hoa , chạm nhằm không khí lạ . Không có sự say đắm nào ở phương xa , hay sự mong chờ nào cách biệt mà không đến đây để sum vầy , gây nên cảnh
    tượng đoàn viên của một mùa thơ , mùa trăng bát ngát .

    (1) Bích Khê (1916 -1946): Bích Khê tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1916 tại xă Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngăi. Kư bút hiệu Lê Mộng Thu khi sáng tác thơ Đường luật.
    Bích Khê là con thứ chín trong một gia đ́nh nho học, người ông từng tuẫn tiết v́ không chịu theo Nguyễn Thân đàn áp cuộc khởi nghĩa Phan Đ́nh Phùng. Cha BK từng tham gia phong trào Đông Du của Phan Bội Châu. Thuở nhỏ, Bích Khê học tiểu học ở Phước Lộc và Đồng Hới, học trung học ở Huế rồi ra Hà Nội học ban tú tài nhưng nửa chừng bỏ dở. Năm 1931, 15 tuổi, ông đă biết làm thơ Đường luật, ca trù. Năm 1934, cùng người chị ruột tên Ngọc Sương vào Phan Thiết mở trường dạy học tư và học thêm.Năm 1936, chị Ngọc sương bị mật thám Pháp bắt, trường đóng cửa, Bích Khê trở lại quê nhà. Năm 1937, bị bệnh phổi, sau khi điều trị trở về lên sống trên núi Thiên Ấn thuộc Quảng Ngăi, rồi lại ngược xuôi trên một chiếc thuyền quanh các ngả Sa Kỳ - Trà Khúc. Năm 1938, lại cùng chị Ngọc Sương (khi ấy đă được thả) vào Phan Thiết mở trường dạy học, được vài năm lại bị chính quyền Pháp ra lệnh đóng cửa. Năm 1941, Bích Khê dạy học ở Huế. Năm 1942, bệnh phổi tái phát, ông trở về Thu Xà. huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngăi. Ngày 17 tháng 1 năm 1946, Bích Khê ĺa bỏ cơi đời và cơi thơ lúc 30 tuổi.
    Tác phẩm:Trước khi đến với Thơ mới, một thời gian dài (1931-1936), Bích Khê đă viết ca trù, thơ Đường luật, đăng trên các báo Tiếng Dân, Tiểu thuyết thứ Năm, Người mới...Sau 1937, ông chuyển hẳn sang làm "thơ mới” do sự tác động của Hàn Mặc Tử và chịu nhiều ảnh hưởng của HMT. Tinh Huyết (1939): tác phẩm duy nhất ra đời khi ông c̣n sống và rất được người yêu thơ chú ư.
    Bốn tập thơ và một tập tự truyện chưa xuất bản, gồm: 1/ Tinh Hoa (sáng tác từ 1938 đến 1944); 2/ Đẹp (sáng tác năm 1939); 3/ Ngũ Hành Sơn (chưa có thông tin); 4/ Mấy ḍng thơ cũ (tập hợp khoảng 100 bài thơ đường luật đă đăng trên các báo từ 1931-1936); 5/ Lột truồng (tự truyện, chưa rơ năm sáng tác).
    Người lưu giữ thơ Bích Khê đầy đủ nhất là thi sĩ Quách Tấn. Năm 1971, Quách Tấn viết và cho xuất bản cuốn Đời Bích Khê. Năm 1975, ông cho in Thơ Bích Khê (NXB Nghĩa B́nh, 1988) và Bích khê tuyển tập (Hà Nội, 1988); Tinh Huyết, Bích Khê, NXB Hội Nhà Văn tái bản, 1995. Tinh huyết trong sách in 1939 được in lại trong Tinh huyết và Tinh hoa - bản in Thơ Bích Khê, Nghĩa B́nh 1988; Tinh hoa trong bản in ở NXB Hội nhà văn 1997… Tiểu sử, tác phẩm của Bích Khê và những nghiên cứu, phê b́nh về Bích Khê xin xem thêm trong Website bichkhe.org do Hội Văn nghệ tỉnh Quảng Ngăi và người thân Bích Khê lập ra.
    (2) Lạc mai hoa: Các bản nhạc sáo nổi tiếng đời Đường có "Lạc mai hoa” , "Chiết liễu”. Cao Thích có lời thơ : "Tá vấn mai hoa hà xứ lạc, Phong xuy nhất dạ măn Quan Sơn”. C̣n Lư Bạch th́ : "Hoàng Hạc lâu trung xuy ngọc địch, Giang Thành ngũ nguyệt lạc mai hoa” ( tức là : Trên lầu Hoàng Hạc thổi sáo ngọc, Giang Thành tháng năm mai hoa rụng”. Hoặc "Địch trung văn chiết liễu, xuân sắc vị tằng khan” ( trong tiếng sáo nghe thấy tiếng bẻ liễu , xuân sắc chưa hề thấy). Lư Ích th́ trong bài "Dạ thượng thọ giáng thành văn địch” thơ rằng :"Bất tri hà xứ xuy lô quản, nhất dạ chinh nhân tận vong hương” ( nghĩa là: Nào biết nơi nao vang tiếng thổi ống sậy, chinh nhân cả đêm trường nhớ buốt quê hương) ; Lư Bạch trong "Xuân dạ thành lạc văn địch” có thơ rằng:

    Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
    Tán nhập xuân phong măn Lạc thành
    Thử dạ khúc trung văn chiết liễu
    Hà nhân bất khởi cố quốc t́nh.
    Nghĩa là:
    Tiếng sáo ngọc nhà ai thầm bay ra
    Ḥa vào gió xuân lan khắp Lạc thành
    Khúc nhạc đêm nay nghe thấy tiếng liễu găy
    Ai mà không chạnh ḷng niềm cố quốc .

    (3) Tư Mă Tương Như, tự Tràng Khanh, người ở Thành Đô đời nhà Hán. Người rất đa tài, văn hay, đàn giỏi. Là người hào hoa rất mực nên mua được một chức quan nhỏ, làm trong ít lâu, chán, cáo bệnh xin thôi. Ngao du tới nước Lương, rồi trở về nước Thục. Đến đâu, Tương Như cũng dùng bút mực và cây đàn để giao thiệp bằng hữu. Khi đến đất Lâm Cùng, Tương Như vốn sẵn quen với Vương Cát là quan lệnh ở huyện, nên đến chơi. Cát lại mời Tương Như cùng đi dự tiệc ở nhà Trác Vương Tôn, vốn viên ngoại trong huyện. Nghe tiếng Tương Như đàn hay nên quan huyện cùng Trác Vương Tôn yêu cầu đánh cho một bài. Họ Trác vốn có một người con gái rất đẹp tên Văn Quân, c̣n nhỏ tuổi mà sớm góa chồng, lại thích nghe đàn. Tương Như được biết, định ghẹo nàng, nên vừa gảy đàn vừa hát khúc "Phượng cầu hoàng” (Chim phượng trống t́m chim phượng mái): "Chim phượng, chim phượng về cố hương, Ngao du bốn bể t́m chim hoàng. Thời chưa gặp chừ, luống lỡ làng. Hôm nay bước đến chốn thênh thang. Có cô gái đẹp ở đài trang, Nhà gần người xa năo tâm tràng. Ước ǵ giao kết đôi uyên ương, Bay liệng cùng nhau thỏa mọi đường”. Trác Văn Quân nghe được tiếng đàn, lấy làm say mê, đương đêm bỏ nhà đi theo chàng. Trác ông tức giận, quyết định từ con. Đôi trai gái đó mở một quán nấu rượu. Vợ chồng cùng cặm cụi làm ăn. Sau Hán Vũ Đế đọc bài "Tử hư phú" của Tương Như, khen tài mới vời vào triều, ban chức tước. Lại sai chàng cầm cờ tiết, thay nhà vua về Ba Thục chiêu an bọn phụ lăo tùng phục nhà Hán. Lần này thỏa chí b́nh sinh, Tương Như áo gấm vinh quy được người đón rước long trọng. Nhưng làm quan ít lâu, lại chán, cáo bệnh lui về quê.
    Trong "Bích Câu kỳ ngộ" có câu: Cầu hoàng tay lựa nên vần / Tương Như ḷng ấy, Văn Quân ḷng nào. Và, trong Kiều của Nguyễn Du cũng có câu: Khúc đâu Tư Mă phượng cầu / Nghe ra như oán, như sầu phải chăng!
    (4) Khúc Nghê Thường Vũ Y :
    Theo sách "Dị văn lục" th́ khúc vũ này do Đường Minh Hoàng du Nguyệt điện về chế ra cho những người cung nữ múa hát.
    Nguyên một đêm Trung Thu, niên hiệu Khai Nguyên đời nhà Đường (713-741), vua Minh Hoàng thấy trăng sáng, mơ ước được đặt chân đến đấy xem chơi. Có đạo sĩ tên La Công Viễn (có sách chép là Diệp Pháp Thiện), người có phép tiên mới dùng giải lụa trắng, hóa thành một chiếc cầu đưa nhà vua đến Nguyệt điện.
    Trong điện bấy giờ sáng rực. Tiếng nhạc du dương. Những nàng tiên trong những xiêm y xinh tươi, lộng lẫy, uyển chuyển múa hát như đàn bướm đủ màu tha thướt, bay lượn bên hoa.
    Đường Minh Hoàng càng nh́n càng thấy say mê, quên cả trời gần sáng, nếu không có La Công Viễn nhắc th́ quên trở về.
    Nhờ ghi nhớ cách điệu nên khi trở về triều, Đường Minh Hoàng chế thành khúc "Nghê Thường vũ y" để tập cung nữ múa hát. Rồi cứ đến đêm rằm tháng tám, Đường Minh Hoàng cùng với Dương Quư Phi uống rượu dưới trăng, ngắm đoàn cung nữ xiêm y rực rỡ, uyển chuyển múa khúc Nghê Thường để tưởng như sống trong cung Quảng Hàn, điện Nguyệt.

    Sách "Đường thư" chép: Đường Minh Hoàng lên chơi Nguyệt điện, thấy các tiên nữ mặc áo cánh chim, xiêm y ngũ sắc, hát bài "Tây Thiên điệu khúc", đến khi trở về trần, c̣n nhớ mang máng. Nhằm lúc có Tiết độ sứ là Trương Kính Thuật từ Tây Lương, đem khúc hát Bà La Môn đến biếu, Minh Hoàng truyền đem san định lại và đổi tên là khúc "Nghê Thường vũ y".

    "Nghê" là cầu vồng. Sách Trung Quốc xưa ghi cầu vồng có năm màu."Thường" là xiêm, để che phần hạ thân của người. "Nghê Thường" có nghĩa là xiêm cắt bằng năm màu."Vũ y" là áo dệt bằng lông chim. Hay có nghĩa là kiểu áo theo h́nh cánh chim.
    "Nghê Thường vũ y", ta có thể cho đó là những vũ nữ mặc áo theo h́nh cánh chim, c̣n quần th́ bằng lụa phất phới ngũ sắc.
    Khúc "Nghê thường vũ y" là h́nh thức biến chuyển của khúc hát "Bà La Môn" đă có trước tiên ở phần đất Ấn Độ ngày xưa. Nó truyền sang Trung Quốc ở đất Tây Lương do Tiết độ sứ Trương Kính Thuật đem dâng cho Đường Minh Hoàng (Đất Tây Lương chính là huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc ngày nay của TQ. Trước đời nhà Đường, Đôn Hoàng đóng một vai tṛ quan trọng về phương diện văn hóa
    và thương mại).

    Trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, có câu:

    Dẫu mà tay múa, miệng xang,
    Thiên tiên cũng ngoảnh Nghê Thường trong trăng.
    Trong "Bích Câu kỳ ngộ" cũng có câu:
    Đong đưa khoe thắm, đưa vàng,
    Vũ y thấp thoáng, Nghê Thường thiết tha.

    (5) Xin xem toàn bài Châu:
    Châu I
    Tôi nói làm sao - Cái đẹp câm,
    Đẹp trong pho tượng xuất ra thần
    Một con người mộng - con người mộng
    Trễ nải thanh tân biếng nhác thầm.
    Muôn sợi đàn tơi buông lơa xơa...
    Vẻ ǵ sùm sụp ướt trên mi
    Vẻ ǵ dă dượi không lay động
    - Cặp mắt mùa thu đương đắm si.
    Ôi đẹp đau thương, dáng thiết tha
    Hồn ơi! Cặp mắt vỡ men hoa
    Hồn ơi! Cặp mắt say thơ mộng
    Dần biến ra châu trắng mịn mà...


    Châu II
    Tôi thấy vàng mơ động khí giời
    Mà nàng làm tượng lẳng im hơi
    Để ra một vẻ đau thần bí
    Linh động vang lên chín phẩm ngời

    Tôi mượn t́nh câm mớm lưỡi răng
    Để nghe rũ rượi đă bay lan
    Để đưa sanh mạch khơi hơi thở;
    Hấp hối hờn run hộ vệ nàng

    Có cặp lông mày phớt ráng đêm
    Dậy như men rượu gọi mơ them
    Có ǵ uyển chuyển trên da thịt
    Nức một đường thơm một điệu êm

    Đây máy thu thanh im dưới tóc
    Dẫn cho âm hưởng thấu vô ḷng
    Và hai lổ hở hờ hương vị
    Úp mở như h́nh một dáng cong

    Đôi má bây chừ tôi xát yêu
    Nóng run như gió lá say chiều
    Từ lưng uốn éo xuống chân trúc
    Đờ đẫn thanh bai tỏa ư kiều

    Những dấu tiên tri kín đáy hồn
    Đây tôi truyền sóng ở trong hôn
    Cho nàng sống với hồn tôi sống
    Với cả hoa trăng sáng chập chờn

    C̣n tiếng đàn tranh bay ra môi
    Những thơm những mộng rúng bồi hồi
    Và bàn tay ngọc dính trên ngực
    Ôm nhịp đau thương muốn rụng rời.

    Trực giác đi ra trên trán kia
    Có màu sắc tướng rất phương phi...
    Vẻ chi mănh liệt những êm ái
    Trong cặp tuyết lê ướm dậy th́

    Tôi nh́n đâu khắp cặp đùi non
    Một vẻ tơ mơ một vẻ ngon...
    Tôi hốt ghen tuông h́nh ảnh mộng
    Rêm rêm khoái lạc - khói sương vờn.

    Châu III

    Tôi đắm hồn tôi cho chết say
    Như hoa mảnh khảnh xác thu gầy
    Ở trong cặp mắt như châu ấy
    Và biển ra châu lă chă đầy

    Em đă là châu lệ cũng châu
    Mắt tôi đỡ khát biết bao sầu
    Biết bao ánh ngọc rung rinh nổi
    Giữa bề vàng mơ giữa cảnh mơ

    Tê tái hồn tôi khóc nức nở
    Là khi ảnh ấy ở trên tay
    Cơ hồ thân thể run cầm cập
    - Thanh sắc muôn xuân đến đă đầy!

    Cơ hồ trực giác trên cung bậc
    Điệu nhạc mê người đến chết say
    Ảnh ơi! Tôi áp lên trên ngực
    Khoan hăm tim tôi đứng lại ngay
    Tôi c̣n hơi hám trên môi miếng
    Giữ kín ngầm yêu tinh chửa dây
    Tôi c̣n sú ảnh trong môi miếng
    Hôn đứt hơi tôi những phút này
    Chao ôi! Thân thể run cầm cập
    - Thanh sắc muôn xuân đến đă đầy!
    Ảnh ơi! Đôi mắt mơ màng quá
    Ăn đứt màu thơ - xanh ngất ngây
    Tóc xơa đàn tơ rơi lướt mướt
    Hồn thu đă hiện khóc thu gầy
    Chao ôi toàn ảnh tuôn ra lệ
    Tê tái hồn tôi khóc rấm rây
    Châu vỡ nguồn châu - năo vỡ năo
    - Thanh sắc muôn xuân đến đă đầy!

    Say mức say mơ say mất mây
    Thần châu tôi xuất phút này đây
    Mau lên! Tinh túy ngàn - muôn - triệu
    Thế giới - hư linh - hiệp lại này

    Tối hôm nay mùa thu đang ảo năo
    Trong gió rên và trong lá vàng bay
    Mỗi gân trắng rúng rẩy một luồng say
    Mỗi hơi thở hoa hồng vang nức nở
    Và mạch máu không gian dường vỡ lở
    Hú ma điên - kinh động vạn hồn đau

    Muôn ưu phiền dầy đặc ở trong đầu
    Muôn sầu hận xây mồ ngay giữa phổi
    Tôi ngây ngất trong bể ḷng sôi nổi
    Để hồn mê trôi dạt cơi xa mơ
    Ḿnh lặng ngồi trên tảng đá trơ vơ
    T́nh khóc mướt trong đêm thu ấp ủ
    Nhạc khiêu vũ đâu đây lan sóng múa
    Tôi tưởng chừng... da thịt biến ra thơm
    Những đầu lâu ră hết khí xanh dờn
    Những xiêm áo bay rờn trong cảnh mộng
    Cả địa ngục đi vào trăm lỗ hổng
    Bắn tinh ra trộn trạo giữa nguồn hương

    Nhưng, nhiệm mầu! Trước mắt, ánh trăng hường
    Bay lả tả - muôn hoa đều nín thở
    Một sắc động? Một mùi hương mới vỡ?
    Một màu son phảng phất ư mơ màng?
    Không! Từ trong thanh khí dội hương vang
    Bỗng đôi mắt hiện h́nh - Đôi mắt ngọc.

    Ôi đôi mắt! - Toàn thân tôi rởn ốc!
    Cả linh hồn óc năo phổi tim gan
    Đều say rêm trong sóng điện rang rang
    Với âm cốt tinh thần và khí phách
    - Hỡi đôi mắt! Nơi người là ngọc thạch
    Nơi giếng người phản chiếu ảnh thiên thần
    Nơi suối người giữ kín tiếng châu ngân
    Nơi triển lăm cả một bầu tiên động
    Nơi rung rinh cả một trời thơ mộng
    Người là ai? Người hỡi! Người là ai?
    - Nhưng đôi mắt lờ lặng và mê say
    Nh́n đắm đuối không một lời náo nức
    Đôi mắt nh́n đắm đuối và mê say

    - Hỡi đôi mắt! Người hăy hiện trên tay
    Cho ḷng ta ấp yêu nguồn suối lệ
    Hồn ta say trong nhạc vàng kể lể
    T́nh ta dâng trong gợi sóng thu ba
    Cả máu đào tủy trắng với xương ma
    Cùng tinh loăng và bao nhiêu bảo vật
    Để xây đắp đàn thờ cao chất ngất
    Lút mây xanh và lút cả thiên thai
    Người là ai? Người hỡi! Người là ai?
    - Bỗng đôi mắt rưng rưng dường rớm khóc
    Nhưng cười nụ trong màu hoa ánh ngọc:
    - Ta là CHÂU ! Thi sĩ ! Ta là CHÂU !

    (6) Xin xem Bài viết của Thanh Thảo về Bích Khê trên bichkhe.org.
    (7) Xin xem bài thơ về người bạn thơ Hàn Mặc Tử của Bích Khê:

    Hàn Mạc Tử

    Bỗng nào chợt như ma
    Khắp châu thân hổn hển
    Huyền hồ nh́n không ra
    Lưu luyến dường thiết tha
    Chờm chờm trên giường bệnh?
    Bỗng nào chợt như ma
    Khắp châu thân thấp thểnh
    Huyền hồ nh́n không ra?

    Hay là tôi hóa hai
    Đă chết đi một nửa
    Hay là trời ban mai
    Bị mù sương vây bủa
    Làm buồng ngập hoàng hôn
    Ảnh hưởng tới linh hồn
    Tiều tụy,
    Hiện ra h́nh ủy mị?

    Bóng nào nắng dần ra
    Trên đầu đơm ṿng hoa
    Khắp thân in màu tuyết
    Trong trẻo và diễm tuyệt
    Tơ tơ gần như nguyệt
    Biếc biến gần như thu
    Đều qui trên nét mặt
    Hoàng hôn mai mờ sắc
    Buồng ban mai trắng ra
    Ôi, ôi không là ma
    Đừng nh́n trong ư tứ
    Quạnh quẽ nhận không ra
    Gần rồi không c̣n xa
    Hàn Mặc Tử!
    Châu lệ thắm t́nh say
    Gặp gỡ có hôm nay
    Chiêm bao ngày liền ngày
    Ngoài ḿnh, ai mà hay?
    "Anh ơi từ đâu đến?
    Em buồn em đang bệnh
    Anh ơi sao ra hai
    Huyền hồ trong phôi thai?
    Hóa thân trong phương phi
    Người em rày mệt quá
    Mà nay gặp cố tri
    Hai ta đây rả rả
    D́u lấy cùng nhau đi"

    Lời nức ra hơi hương
    D́u dịu tỏa trong buồng
    "Anh ơi tôi mới đến
    Là hiện thân của bệnh
    Quằn quại đau xót xa
    Máu mủ nh́n không ra
    Giờ phương phi! Phương phi!
    Là h́nh thơ tinh vi
    Là h́nh thơ quy y
    Mướt trong màu tuyết vẽ
    Hai ta đều quạnh quẽ
    Đức ruột nhớ thương nhau
    Nấn ná sẽ ĺa nhau
    Chiêm bao c̣n thấy nhau"

    Rùng ḿnh ta nh́n ra
    Huyền hồ đà như ma
    Ôi không phải là ma
    Gần sao mà c̣n xa
    Lại đâu là quê nhà
    Hàn Mạc Tử! Hàn Mạc Tử!
    Qui Ḥa! Qui Ḥa! (1)
    (1) Qui Ḥa: Nơi Hàn Mạc Tử tới chữa bệnh rồi qua đời.


    Sài G̣n, tháng 10-2010