• Dng Sng Qu Nh: Tr Khc, by Trần Quảng

    Dng Sng Qu Nh: Tr Khc
    TRẦN QUẢNG

    Sng Tr Khc thường cũng được gọi l Tr giang hoặc sng Tr, pht nguồn từ rặng ni Đắc-Tơ-Rn vng cao nguyn thuộc tỉnh Kon-Tum; l hợp lưu của 4 sng con l sng Re, sng X-L, sng Rinh v sng Tang. Tr Khc l sng lớn nhất Quảng Ngi v di chừng 120 cy số, bn tả ngạn l hai quận Sơn H v Sơn Tịnh, bn hữu ngạn l quận Tư Nghĩa, đến gần biển nhập với sng Vệ đổ ra cửa Đại Cổ Lũy.

    Trước thế kỷ XV, sng Tr Khc thuộc vng đất Cổ Lũy Động của Chim Thnh; đến năm 1402, những người Việt đầu tin đ xui Nam qua dng sng nầy khi Cổ Lũy Động được đổi tn thnh chu Tư v chu Nghĩa sau cuộc Nam chinh của tướng nh Hồ l Đỗ Mn. Nhưng mi đến 70 năm sau đ vng chu thổ sng Tr Khc, sng Tr Bồng v sng Vệ mới trở thnh chốn lập nghiệp của người Việt từ miền Bắc vo, khi người Chim đ rt qua pha Nam đo Cả (1471) v thua trận trước đon qun của vua L Thnh Tng.

    Sng Tr qua gần su thế kỷ đ trở thnh một dng huyết mạch chnh của người dn Quảng Ngi, v đến ngy nay được coi như dng sng biểu tượng của tỉnh nh, chắc chắn được nhớ đến trước tin trong lng người xa xứ v cả những đồng bo ở cc địa phương khc khi c dịp nghỉ về tỉnh Quảng Ngi.


    Đo Eo Go, Nghĩa Hnh

    Nước sng Tr qua bao thế hệ cũng đ thấm đẫm trong mu thịt người bản địa v đ gp phần nui dưỡng với nguồn tm c, đặc biệt l những mn thủy sản ngon c hương vị độc đo khng c ở những dng sng khc: c bống, c thi bai, don v nguồn nước c lưu lượng lớn ngay cả vo ma h đ tưới hng vạn mẫu ruộng đất của nng dn hai bn bờ trồng la, khoai, bắp, ma, đậu, rau quả... bằng hệ thống bờ xe nước lắp rp thủ cng nhưng rất quy m v đồ sộ c một khng hai với mười bnh xe (thời chưa c đập thủy lợi v my bơm nước) trong khi bờ xe nước ở cc sng khc trong tỉnh chỉ c bốn bnh xe, v cc tỉnh khc chỉ c một bnh xe m thi.
    Ăn quả nhớ kẻ trồng cy hoặc uống nước nhớ nguồn l những cu tục ngữ thể hiện lng biết ơn của người Việt ni chung, v của người dn miền sng Tr ni Ấn ni ring.
    Sng Tr khng những chỉ l nguồn sống m cn l niềm hnh diện, niềm thương nỗi nhớ cho người bản qun v cả lữ khch một lần đi qua Quảng Ngi, từ những ghềnh thc hng vĩ cheo leo miền thượng du, rồi m đềm uốn lượn qua cc xm lng rợp bng tre xanh ven bờ ra tận biển Đng.

    Đặc biệt, chỉ dọc theo sng Tr đ c đến bốn thắng cảnh: Long Đầu H Thủy, Thin Ấn Nim H, H Nhai Vn Độ v Cổ Lũy C Thn c thn nầy thế đất tạo thnh do lực nước hợp lưu của sng Tr v sng Vệ tun ra v lực thủy triều từ biển Đng đẩy vo chặn lại. Bốn thắng cảnh ny cng với su thắng cảnh khc rải rc trong tỉnh được đặt tn rất văn vẻ, vừa gợi hnh vừa gợi , do Nguyễn Cư Trinh thời ng đảm nhận chức tuần vũ Quảng Ngi (1750-1752), nn nghe dễ cảm v dễ nhớ hơn so với những danh thắng khc trong nước thường chỉ c một tn đơn hoặc tn kp.
    * * * Bốn cảnh kh qun lin quan đến dng sng Tr v su cảnh đẹp địa phương khc, qua dng thời gian đ hiện hữu trong những dng thơ ca về Quảng Ngi.

    Như một bi thơ tm cu bảy chữ của một tc giả khuyết danh rất hm sc v tiu biểu được nhiều người biết:

    Chạnh niềm non nước lẽ đầy vơi,
    Cẩm Quận từ xưa cảnh c mười:
    Ấn gip Long Đầu xem rạng vẻ,
    Bt kề Thạch Trận ngắm cng tươi.
    T Dương, Điếu Tẩu mưa thương nắng,
    Dục Nguyệt, Bn Sa cảnh nhớ người.
    Cổ Lũy, H Nhai người cm cảnh,
    Ka non, nọ nước kho tru ngươi.


    Một Cảnh Cầu Sng Vệ, QN

    Như trong những bi bốn cu trong chm thơ lục bt: Nước Non Vạn Dặm Tnh Ru Mộng Về của nh thơ V Thạnh Văn người qu Sơn Tịnh:

    Trăm năm phận lỡ Yn Tần
    Xt xa Vn Độ, ngỡ ngng H Nhai
    Lụa l tằm nhả một mai
    Chn cầu bng dọi gt hi o bay
    . . . . . .
    Bng khung hạc tếch đi bờ
    Trở trăn bến cũ quặn tơ điếng lng
    Ngẩn ngơ la trổ đng đng
    Triều ln Cổ Lũy nước rng C Thn

    Sng Tr, vo một đm trăng sng, từng l chủ đề của một bi thơ do Cao B Qut sng tc thời một trăm su mươi năm trước, khi ng c tội bị pht phối ở Đ Nẵng (?) đ c dịp vo Quảng Ngi tiễn đưa v uống rượu với người bạn thn l Bảo Xuyn trước khi vị nầy đi qun thứ ở An Giang, khoảng năm 1843-1845. Bi thơ nầy gồm 22 cu, l tm sự của một bậc ti hoa nhưng thất ch tặng người tri kỷ tri m. Xin tạm trch hai đoạn đầu v cuối, phần phin m Hn-Việt v dịch thơ của Phan Huy Nhn:

    Tr giang nguyệt
    Kim dạ vị thy thanh?
    Quan san vạn l hạo nhất sắc
    H xứ bất hệ cố vin tnh?
    . . . . . .
    Tạc dạ kim phong hạ thin khuyết
    Bạch lộ thanh sương sảo xm cốt
    Nhn sinh hội ngộ an khả thường?
    Hữu tửu thả ẩm Tr giang nguyệt Tr giang nguyệt
    ! Như knh hạ ngn lưu
    Trượng phu n kiếm khứ tiện khứ
    Kỳ lộ v vi nhi nữ sầu!
    (Cao B Qut Tr giang thu nguyệt ca)


    Trăng sng Tr

    Đm nay trăng sng v ai vậy?
    Mun dặm non sng bạc một mu,
    Hỏi đu chẳng vướng tnh ly biệt?
    . . . . . .
    Đm trước heo may trời thổi xuống,
    M xanh sương bạc lạnh qu người.
    Trn đời đu gặp nhau lun được,
    Uống thỏa trăng sng với rượu ny.
    Trăng sng Tr Như tấm gương trong dầm nước bạc,
    Lm trai chống kiếm bước ra đi.
    Ra đi nn thẳng đường đi thẳng,
    Đừng như nhi nữ...lc biệt ly!
    (dịch thơ Phan Huy Nhn)


    Sng Rin - Quảng Ngi

    Sng Tr, Trăng Thu v Rượu đ cng dự phần với Cao thi sĩ v Bảo Xuyn trong đm ly biệt khng hẹn ngy gặp lại, v một người đang chịu n pht phối v người kia sắp ln đường nhậm chức ở miền Nam xa xi. Dng sng dưới vầng trăng Thu với một chiếc thuyền con tri lờ lững r rng l một cảnh nn thơ, v sng Tr ni Ấn bn thnh Gấm lại c một vẻ tươi đẹp thin nhin được bn tay của con người điểm t sống động:

    Thin đa xun hoa chiếu Cẩm Thnh
    Ấn sơn Tr thủy lệ kỳ danh.
    Sơn kỳ thủy t y như cựu,
    Thnh d phong quang xứ xứ tn.
    (Hanh Phủ Nguyễn Đnh Thảng)

    Tạm dịch:

    Nghn đa hoa xun rực Cẩm Thnh,
    Non Ấn dng Tr r xứng danh.
    Ni đẹp sng xinh như thuở trước,
    Phố thị đồng qu đổi mới nhanh.

    Dng sng Tr với những bi ct, nương du bn bờ cng gp phần gắn b những mối tnh mộc mạc nhưng khng km phần thơ mộng:

    Lng em ven dải sng Tr
    C nương du mượt, đậm đ tnh qu.
    (Phương Đnh Nắng chiều đẹp mi qu em)

    ***

    Con đường ct rặng liễu gầy soi bng,
    Dng em đi tỏa hương sắc xun th.
    Ta ngy ngất đứng đầu gnh Tn Mỹ,
    Sng vỗ tnh hn bi ct Tr giang.
    (Đỗ Vĩnh Khanh Qu em miền ct trắng)


    Thc Trắng tại Minh Long, QN

    Tnh chung với nước với non v tnh ring trai gi cng su đậm l thế, rồi v hon cảnh chẳng đặng đừng c lc đnh phải tha hương. V d ở xứ người:

    Dng Tr Khc vẫn chảy hoi khng dứt,
    Trong nỗi niềm lữ khch dặm đường xa.
    (Trần Thiện Đạt Quảng Ngi, một thời để nhớ)

    ***

    Thương qu lng nhủ lấy lng,
    Ai về Quảng Ngi xui dng Tr giang.
    Nhớ non, nhớ nước, nhớ lng,
    Tnh qu lai lng, bng hong lng ti.
    (Trần Điềm Thương về Quảng Ngi qu ti)

    Cng non nước đ hơn một lần thề ước, nn khng t người lữ thứ đ tự nhận mnh thiếu thủy chung:

    Kẻ phụ tnh hơn nửa đời lưu lạc,
    Đm đm nằm nghe tiếng nước sng Tr,
    Sng Tr Bồng, Tr Khc chảy thiết tha,
    Sao đau nhi như hai dng nước mắt!
    (L Vinh Quảng Ngi v kẻ phụ tnh)

    Qua nhn cch ha do niềm thương nỗi nhớ, non nước được tưởng như cũng biết hờn giận đớn đau với những người vẫn n hận rằng mnh bạc bẽo, nn ngỏ lời hứa hẹn:

    Ta vẫn hoi mong về chốn cũ,
    Thăm dng Tr Khc, ni Long Đầu.
    Sng giận hờn ai con sng vỗ,
    Phơi bờ ct trắng quặn niềm đau!
    Ni mi chờ ai qun H Thủy,
    Trơ trơ mặt đ ru phai mu.
    Chn cầu nước xoy đau lng đất,
    m hưởng ngn năm cuộc bể du!
    (Nguyễn Tấn ch Quảng Ngi qu hương i!)


    Khng c g phải nghi ngờ, rằng Tr Khc v bao hnh ảnh qu nh vẫn đầy ắp trong cơn mộng:
    . . . . . .
    Tr giang t Thin Ấn xanh mu,
    C Thn mn lối thương chn so,
    Cổ Lũy thong nhn chợt nhận nhau.
    Chn vấp hong hn chiều Mỹ Kh
    Tam Thương bến đợi mi chưa về
    My giăng Tr Khc hong hn tm,
    Quờ bắt vầng trăng chợt tỉnh m
    (Trần Anh Lan Quảng Ngi ta về)



    Bnh Minh trn hải đảo L Sơn, QN

    Tr giang! Tr giang! Chưa đi xa đ đầy ắp niềm thương, đi xa chưa về lại dng trn thm nỗi nhớ. Sng Tr thực sự đ khng thể khng nhắc đến trong bất cứ tc phẩm thi ca no c chủ đề về qu hương Quảng Ngi! Kể cả những tc giả phương xa c lần đi qua hoặc đ từng gh lại, như trong bi thơ Tr Giang Thu Nguyệt Ca vẫn được lưu truyền l một trong số những tuyệt tc của Cao b Qut đ trch ở đoạn trước, v như trong nhạc khc Thương về Quảng Ngi của hai tc giả cũng qu qun ở Bắc H: Văn Quang v Anh Đỗ, được soạn trong thời gian hai vị ny cng đến cng tc ở Quảng Ngi vo năm 1956-1957. Bản nhạc nầy độc đo ở chỗ: người viết lời ca l Văn Quang vốn l nh văn suốt đời chỉ viết tiểu thuyết v phng sự, v khng c bi thơ no khc từng được biết đến; người phổ nhạc l Anh Đỗ cũng khng c nhạc phẩm no khc v chỉ l một nghệ sĩ trnh diễn thuần ty, d rất thng thạo nhạc l v nhạc cụ.

    Thương Về Quảng Ngi chưa bao giờ được xuất bản, nhưng hai tc giả hẳn rất vui lng nhường bản quyền vĩnh viễn như một tặng phẩm cho những ai từ lu đ tự in đậm trong tm hồn lời ca nhạc, chnh l những người c qu hương ni Ấn sng Tr m hai người khch phương xa ny từng yu mến... Thương Về Quảng Ngi, nhớ dng Tr Giang, từ hơn năm mươi năm qua đ trở thnh bi ca thn thuộc vỗ về nỗi lng của người xa xứ, lại cng thiết tha đối với những kẻ ngn dặm lưu lạc qu người:

    Dng nước trong cuốn theo bng my về đu?
    Lặng lờ Tr Khc nước tri mau, Nắng vươn qua nhịp cầu.
    Người c nhớ lối đi Cổ Lũy C Thn,
    Dừa cuốn gi ha nhịp đời, Tnh đẹp mi trong lng ti.
    Quanh co đường bờ sng ven ct trắng,
    V khuất bng tre mềm Khi vươn mnh trong hong hn,
    Dịu dng theo hơi gi ngt hương cau,
    Từng tiếng ht n tnh Trong phố ngho ướt mu trăng!
    . . . . . .
    Tr Khc ơi! Nhớ thương đến bao giờ ngui,
    Chiều chiều thường đứng nhớ thương nhau,
    Luyến thương qua nhịp cầu.
    Rồi luyến tiếc giấc mơ ngy ấy xa xi.
    Quảng Ngi c người đợi chờ,
    Tnh đẹp mi trong lng ti!
    (Văn Quang Anh Đỗ)



    TRẦN QUẢNG